Cá thính muối chua: Nghe tên đã muốn nếm thử

Nội cho miếng cá vào chảo mỡ sôi, để thật nhỏ lửa rán vàng. Mùi thơm của lớp thính hòa quyện vào với vị chua của thịt cá tạo nên vị ngon ngọt đậm đà rất riêng.

Bữa cơm đơn sơ chỉ có món cá thính muối chua rán và rau khoai lang luộc đã đủ cho tôi vét đáy nồi cơm của nội.

Ba, mẹ bận việc nên khi lên 5 đã gửi tôi về nội. Tôi đi qua t.uổi thơ mang theo trong ký ức về mùa mưa, nước sông dâng lên cao ngập trắng xóa, đồng ruộng bỏ không. Nội nhìn cánh đồng nước, nén tiếng thở dài lặng lẽ quay đi. Tôi ngây ngô chưa kịp hiểu hết những lo toan nhọc nhằn trong tiếng thở dài ấy, chỉ biết lội bì bõm suốt bao mùa nước nổi.

Khi nước sông dâng lên, cá theo nước ùa vào. Nội bắt được rất nhiều cá, ăn không hết, nên làm món cá thính muối chua ăn dần. Loại cá nào cũng làm cá thính được từ trắm, trôi, chép… Nhưng nội bảo cá mè làm cá thính là ngon nhất. Cá mè dễ kiếm lại tiết kiệm. Cá tươi được nội mổ bỏ ruột, cạo hết màng đen, bỏ đầu, cắt khúc rồi rửa sạch để ráo nước. Nội xát kỹ cá với muối, nhồi muối vào mang, bụng cá.

Nội dùng lọ sành ướp muối cá cho ngon. Cứ một lớp cá, nội lại rắc phủ một lớp muối, lần lượt cho đến miếng cá cuối cùng. Lớp trên cùng của lọ phủ kín muối, rồi dùng nan tre đan thật kín miệng không cho không khí lọt vào, đặt lọ cá vào vị trí khô ráo thoáng mát trong nhà.

Sau khoảng 5 – 10 ngày, tùy theo nhiệt độ thời tiết, độ dày mỏng của khúc cá, nội gỡ lần lượt từng miếng cá ra khỏi lọ, dùng tay ép thật chặt miếng cá cho nhớt cá và mùi tanh theo nước muối chảy ra, độ mặn trong thịt cá sẽ không còn quá gắt như ban đầu. Nội trải từng miếng cá ra nong phơi cho se bớt lại…

Bước ủ cá với thính nội bảo là quan trọng nhất để làm được vại cá thính muối chua thơm ngon, không bị ướt, hỏng. Thính cá có thể làm từ nhiều loại như gạo tẻ, gạo nếp, ngô, đậu tương… Nhưng nội thường hay làm thính từ ngô. Rang thính cũng phải khéo léo và kiên nhẫn hạt ngô mới vàng đều, có độ giòn vừa phải, thơm vừa tới. Ngô chín cho vào cối giã nhỏ, không được giã kỹ quá, thính sẽ bết vào miếng cá ăn không ngon. Thính sẽ hút bớt nước còn trong cá.

Nội xát thính khắp mình cá từ trong ra ngoài thật đều tay cho đến khi miếng cá có màu vàng ươm là được, rồi xếp lại cá vào chiếc lọ sành. Dưới đáy lọ rắc một lớp thính, cứ lượt cá là lượt thính cho đến khi gần đầy miệng lọ. Trên cùng lọ phủ lớp thính thật dày.

Ngày ấy, tôi thường ngồi nhặt sạch rồi quấn tròn từng cọng rơm nếp cho nội nhét chặt vào miệng lọ. Rơm giúp giữ thính trong lọ không rơi ra, hút ẩm, cá thính được lên men chua thơm ngon hơn. Nội dùng nan tre đan thật kín miệng lọ.

Công đoạn cuối cùng là bảo quản, tạo độ chua. Để cá không bị hỏng nội lật ngược úp miệng lọ vào chiếc tô to đựng nước sôi nguội có rắc ít muối để tránh không khí lọt vào. Miệng lọ chạm nước nhưng lớp rơm nén miệng lọ không được ướt. Hàng ngày phải thay tô nước và kiểm tra rơm có bị ướt. Nội để vại cá khoảng 3 – 4 tháng, chờ cá ngấm thính, lên men chín tới, mới lấy ra ăn.

Nội cho miếng cá vào chảo mỡ sôi, để thật nhỏ lửa rán vàng, cũng có nhiều nhà kẹp miếng cá vào vỉ nướng than. Mùi thơm của lớp thính hòa quyện vào với vị chua của thịt cá tạo nên vị ngon ngọt đậm đà rất riêng. Bữa cơm đơn sơ chỉ có món cá thính muối chua rán và rau lang luộc đã đủ cho tôi vét đáy nồi cơm của nội.

Nội gọi món cá thính là món ăn con nhà nghèo. Món ăn dân dã đó là nỗi nhớ thương theo tôi dọc năm tháng dài thơ ấu, món ăn nuôi lớn tôi trong t.uổi thơ nghèo khốn khó. Sau này, khi nội mất đi, không ai làm cá thính muối chua cho tôi nữa. Mỗi lần đi xa, gặp món cá thính muối chua, lòng buồn quay quắt nỗi nhớ nội, nhớ cánh đồng mùa nước trắng ám ảnh suốt t.uổi thơ …

Độc đáo món lá mì xào của bà con đồng bào Tây Nguyên

Lá mì vốn là món ăn thường ngày của bà con đồng bào Tây Nguyên. Nhận thấy món ăn độc đáo, nhiều hàng quán ở Gia Lai đưa đặc sản này vào thực đơn phục vụ du khách ghé thăm vùng đất đỏ bazan.

Nhiều năm nay, món lá mì xào đã trở nên quen thuộc đối với những người con của mảnh đất bazan và du khách trong, ngoài tỉnh.

Nguyên liệu để làm nên món ăn này phải là những sản vật được trồng ngay chính trên nương, rẫy của bà con đồng bào bản địa thì mới đúng vị.

Những đọt lá mì non được hái từ sáng sớm rồi đem rửa sạch, để ráo nước. Giai đoạn vất vả nhất của món ăn chính là vò hoặc giã lá mì cho thật nhuyễn. Cà đắng rửa sạch, ớt xanh cắt nhỏ hoặc để nguyên quả.

Nguyên liệu không thể thiếu trong món lá mì là hoa, lá cây đu đủ đực, ớt hiểm. Để tăng thêm vị béo cho món ăn, bà con thường bỏ thêm thịt ba chỉ, cá trích…

Món ăn này làm không quá cầu kỳ nhưng lại mang đến vị lạ miệng với du khách. Vị ngon ngọt của lá mì, vị cay của ớt, mùi thơm của tỏi, sả… hòa quyện với vị beo béo của thịt ba chỉ, cá trích rất hấp dẫn. Du khách khi đến Gia Lai đều tìm bằng được những quán ăn đặc sản để thưởng thức lá mì.


Bà con bản địa thường hái chọn những lá mì non ngay từ lúc sáng sớm để món đặc sản có hương vị ngon lành nhất


Giai đoạn khó khăn nhất chính là vò lá mì. Lá mì càng vò nát sẽ càng ngon, vị bùi hơn. Nếu số lượng nấu nhiều thì bà con thường dùng cối để giã trong nhiều giờ


Phải mất nhiều giờ đồng hồ mới hoàn thành công đoạn vò lá


Những nguyên liệu để làm nên món lá mì đều quen thuộc và được trồng ngay chính trên nương rẫy của bà con bản địa


Lá mì cùng các nguyên vật liệu khác sẽ được đổ vào một chiếc chảo lớn. Khi xào, lá mì và hoa đu đủ, cà đắng sẽ hòa quyện vào nhau


Món lá mì được xào nhanh trên lửa lớn rồi nhỏ lửa. Bí quyết để món lá mì xào ngon là cách giữ lửa liu riu để lá mì chín nhưng không khô, cà chỉ chín tới, hoa đu đủ còn giòn tươi


Mỗi khi lên nương, bà con bản địa thường xào lá mì và nướng cơm lam để ăn buổi trưa rẫy


Khi thưởng thức, vị đăng đắng của lá mì, cà và hoa đu đủ đực quyện với vị béo ngậy của mỡ heo, cá khô. Đặc biệt, món ăn muốn ngon phải có thêm vị cay của ớt hiểm tạo nên sự kích thích, lạ miệng ngay từ miếng đầu tiên

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *