Hành trình bổ sung Lactoferrin vào công thức của Morinaga

Lactoferrin có nhiều nhất trong sữa non, hỗ trợ kháng khuẩn, kháng virus và tăng khả năng miễn dịch. Từ thập niên 60, Morinaga đã nghiên cứu đưa Lactoferrin vào sản phẩm sữa công thức dành cho trẻ nhỏ.

Theo tạp chí Nutrients, Lactoferrin được tìm thấy với hàm lượng rất cao trong sữa non (sữa mẹ tiết ra trong khoảng 5 ngày sau khi sinh) khoảng 600mg Lactoferrin trên 100ml sữa. Đây là một loại protein với tác dụng chính là tăng cường, điều hòa hệ miễn dịch, chống viêm, kháng khuẩn. Ở sữa trưởng thành (sữa mẹ từ 3 tuần sau khi sinh), nồng độ Lactoferrin đo được giảm xuống còn khoảng 1/3. Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong ít nhất là 6 tháng đầu.

Từ những năm 1960, tập đoàn sữa Morinaga Milk đã bắt đầu nghiên cứu Lactoferrin ở Nhật Bản. Từ những kết quả nghiên cứu được đầu tư nghiêm túc, Morinaga không ngừng điều chỉnh và cải tiến sản phẩm gần với tỉ lệ thành phần dinh dưỡng của sữa mẹ nhất có thể. Đến năm 1986, Morinaga Milk tung ra thị trường sản phẩm sữa bột có chứa Lactoferrin.

z5228376909684 dadcd7c5732199e 2255 8300 1709882667

Morinaga nghiên cứu bổ sung Lactoferrin vào trong công thức từ rất sớm. Ảnh: Morinaga

Morinaga Milk không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và phát triển Lactoferrin mà còn là nhà sản xuất tiên phong toàn bộ quá trình từ sản xuất đến thương mại hóa Lactoferrin. Năm 1989, công ty con MILEI GmbH ở Đức của Morinaga Milk bắt đầu sản xuất Lactoferrin quy mô lớn. Công ty có sản lượng sản xuất cao nhất thế giới, được GRAS phê duyệt ở Mỹ và các quốc gia khác nhau, chấp nhận cho Lactoferrin được thêm vào sữa bột.

Lactoferrin đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hệ miễn dịch của trẻ với khả năng liên kết với các phân tử sắt rất cao. Đó cũng chính là nguồn gốc của cái tên “Lactoferrin”, ra đời từ sự kết hợp giữa cụm “lacto” (một loại protetin trọng lượng phân tử lớn) và “ferrin” (sắt). Sắt là khoáng chất quan trọng tham gia vào quá trình tạo hồng cầu, hệ thống miễn dịch, điều hòa nhiệt độ của cơ thể và đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển oxy từ phổi đi tất cả các cơ quan trong cơ thể. Nhờ khả năng liên kết mạnh mẽ với sắt, Lactoferrin sẽ giúp trẻ hấp thu sắt tốt hơn. Sắt lại là nguồn thu quan trọng cho quá trình nhân lên của vi khuẩn có hại.

Image 282550169 ExtractWord 0 6368 9535 1709696861

Đề kháng vững giúp trẻ vượt bệnh vặt dễ dàng. Ảnh: Morinaga

Theo kết quả nghiên cứu từ Trung tâm Thông tin Công nghệ Sinh học Quốc gia Mỹ, Lactoferrin không chỉ có khả năng “giành giật” sắt với vi khuẩn mà còn loại bỏ sắt trong cấu trúc của vi khuẩn nhờ có ái lực với sắt rất mạnh, gây ức chế sự phát triển của vi khuẩn tại vị trí nhiễm trùng và và điều chỉnh giảm sự biểu hiện của các yếu tố độc lực của chúng.

Image 453573126 ExtractWord 2 2801 9501 1709696862

Lactoferrin đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hàng rào miễn dịch cho trẻ. Ảnh: Morinaga

Protein này cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho các lợi khuẩn đường ruột phát triển. Kết luận từ Viện Dinh dưỡng quốc gia, 70% hệ miễn dịch của trẻ nằm ở hệ tiêu hóa, cụ thể là đường ruột. Lactoferrin thúc đẩy sự phát triển của các vi khuẩn có lợi như Lactobacillus acidophilus và Bifidobacterium bifidum, đồng thời ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại trong đường ruột, từ đó duy trì sức khỏe đường ruột bằng cách điều chỉnh sự cân bằng của hệ vi khuẩn đường ruột. Theo nghiên cứu năm 2015 của Khoa Nội thuộc Trung tâm Y tế Đại học Rush, Chicago, Lactoferrin giúp giảm tỷ lệ các bệnh liên quan đến tiêu chảy ở trẻ em, so với nhóm trẻ không sử dụng Lactoferrin.

Ngoài ra, Lactoferrin có thể cải thiện tình trạng nhiễm khuẩn da và ức chế phản ứng dị ứng da nhờ khả năng chống viêm.

Yên Chi

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *