Cẩn trọng kẻo bị nhược cơ

Nhược cơ (Myasthenia gravis) là bệnh lý thần kinh cơ mạn tính đặc trưng với tình trạng yếu cơ xảy ra từng đợt hoặc liên tục với nhiều.

Đây không phải là một bệnh lý phổ biến, nhưng có thể gặp ở mọi lứa t.uổi. Phụ nữ là đối tượng bị ảnh hưởng gấp đôi nam giới, thường gặp ở phụ nữ trẻ dưới 40 t.uổi hoặc trên 70 t.uổi và nam giới trên 50 t.uổi.

Nhược cơ được xếp vào bệnh tự miễn, do sự tồn tại các tự kháng thể chống lại thụ thể acetylcholin trên màng tế bào cơ tại các vùng tiếp nối thần kinh cơ hậu Synap.

Điều này dẫn đến các tín hiệu do dây thần kinh dẫn truyền tới không được tế bào cơ tiếp nhận. Tình trạng suy giảm sức cơ là một quá trình mạn tính, tiến triển và nặng dần lên về cuối ngày.

Bệnh nhược cơ còn được ghi nhận có liên quan đến các bệnh lý tuyến ức trong 75% bệnh nhân. Một số bệnh tự miễn khác như: viêm đa cơ, viêm loét đại tràng, viêm khớp dạng thấp gặp trong 10% tổng số trường hợp.

Các giai đoạn tiến triển của bệnh nhược cơ

Giai đoạn 1: Nhược cơ khu trú một nhóm cơ, thường ở mắt 15%.

Giai đoạn 2: Nhược cơ toàn thân lành tính, chỉ xâm phạm các cơ ngoại vi, không rối loạn nuốt và khó thở chiếm 60%.

Nhược cơ toàn thân lành tính, chỉ xâm phạm các cơ ngoại vi, kèm rối loạn nuốt nhưng không rối loạn hô hấp.

Giai đoạn 3: Nhược cơ toàn thân nặng, cấp, thiết lập nhanh với liệt các cơ ngoại vi và có rối loạn hô hấp, tương ứng với cơn nhược cơ. Thể tiến triển chiếm 15% nhược cơ.

Giai đoạn 4: Thiết lập nặng dần của nhược cơ đã có từ lâu, tiến triển của những thể nhược cơ khác.

Như vậy, nhược cơ nặng là bắt đầu giai đoạn 2b. Cơn nhược cơ nặng cần được hồi sức hô hấp khi có một trong các dấu hiệu sau: suy hô hấp cấp do liệt cơ hô hấp nếu thấy lồng ngực xẹp khi thở vào mà cơ hoành vẫn di động bình thường là liệt cơ liên sườn, nếu vùng thượng vị không phồng khi thở vào nhưng cơ ức đòn chũm, cơ thang co kéo là liệt cơ hoành, còn mất phản xạ nuốt và ứ đọng đờm dãi là liệt màn hầu.

Liệt cơ hô hấp dẫn tới xẹp phổi và nghe phổi có nhiều rale ẩm. Suy hô hấp còn do nuốt sặc và do tác dụng phụ của các thuốc kháng cholinesterase vì thuốc này gây co thắt phế quản và tăng tiết đờm dãi.

Cẩn trọng kẻo bị nhược cơ - Hình 1

Nhược cơ là bệnh lý thần kinh cơ mạn tính.

Triệu chứng bệnh nhược cơ

Triệu chứng đặc trưng của bệnh lý nhược cơ là yếu, liệt các cơ trong cơ thể, biểu hiện như sau: Yếu cơ vùng đầu mặt cổ: sụp mi, nhìn đôi, nhìn mờ, liệt mặt, nuốt khó, nhai khó, đùn nước bọt, thay đổi giọng nói, đầu thường rũ xuống, nét mặt thường buồn rầu, mệt mỏi; Yếu cơ tay chân, trong những cơn nhược cơ bệnh nhân thậm chí không nhấc được tay lên; Yếu các cơ hô hấp: khó thở, suy hô hấp cấp.

Các triệu chứng yếu cơ thường xuất hiện vào cuối ngày, hoặc sau khi vận động nhiều và thuyên giảm khi người bệnh nghỉ ngơi. Các cơ thường bị ảnh hưởng 1 bên, không đối xứng và có các biểu hiện rối loạn khác nhau. Phản xạ thần kinh và cảm giác của người bệnh thường không bị tổn thương.

Điều trị thế nào?

iều trị triệu chứng

Nếu đang dùng các thuốc kháng cholinesterase mà nhược cơ nặng lên thì có thể ngừng tạm thời thuốc đó và cho thở máy, sau đó điều chỉnh liều.

Chưa điều trị thì dùng thuốc kháng cholinesterase. Các thuốc này làm giảm sự phân giải acetylcholine và gây tích lũy ở tấm vận động.

iều chỉnh nước và điện giải: Bệnh nhược cơ nặng dễ bị mất nước vì tăng tiết nên phải bù dịch và năng lượng. Dùng kháng sinh chống bội nhiễm lưu ý loại kháng sinh gây block thần kinh cơ.

Chú ý loại bỏ các nguyên nhân làm cơn nhược cơ nặng lên.

iều trị tự miễn

Lọc huyết thanh bằng máy tách tế bào hay bởi màng lọc 2 -3 lần có khi 3 -5 lần/ tuần, có hiệu quả trên 2/3 trường hợp. Hiệu quả có thể thấy trong vòng 24 giờ, tuy nhiên thường rõ ràng sau ngày thứ 2.

Các thuốc ức chế miễn dịch khác như cyclophosphamide và methotrexate thường dùng trong nhược cơ nặng khi điều trị corticoid không hiệu quả.

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức biện pháp tích cực khi có u hay loạn sản ở các bệnh nhân nhược cơ. Thực hiện phẫu thuật sau gây tê tại chỗ. Cắt bỏ tuyến ức toàn bộ mang lại hiệu quả lâu dài.

Dấu hiệu sớm của bệnh cường giáp

Cường giáp là hội chứng bệnh khá phổ biến, nhất là ở nữ giới. Nếu phát hiện sớm, điều trị sẽ nhanh khỏi và ít tái phát. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn đọc nhận biết kịp thời dấu hiệu của bệnh này.

Tuyến giáp là tuyến nội tiết quan trọng nằm ở cổ, tiết ra hormon tuyến giáp giúp kiểm soát rất nhiều hoạt động của cơ thể. Cường giáp (hay còn gọi là cường giáp trạng, cường chức năng tuyến giáp) là hội chứng gây ra do tuyến giáp hoạt động quá mức cần thiết nên sinh ra quá nhiều hormon tuyến giáp dẫn đến các triệu chứng của tim mạch, tăng chuyển hóa quá mức. Bệnh thường ảnh hưởng đến nữ giới nhiều hơn nam giới.

Nguyên nhân gây bệnh

Có nhiều nguyên nhân, trong đó 80-90% người bị cường giáp là do bị bệnh Basedow (hay còn gọi là bệnh Graves, bướu giáp độc lan tỏa…). Bệnh Basedow là một loại bệnh tự miễn khiến hệ miễn dịch sẽ tự tấn công ngược lại các mô trong cơ thể và dẫn đến tuyến giáp hoạt động bất thường.

Bệnh do yếu tố di truyền (không lây nhiễm) và cũng hay xuất hiện ở những người hút thuốc. Bệnh nhân mắc bệnh Basedow có tuyến giáp phình to và bị phồng nhãn cầu (chứng lồi mắt).

Người bị cường giáp còn có thể do các nguyên nhân như: viêm tuyến giáp, bướu tuyến giáp thể đa nhân, u độc tuyến giáp hay sử dụng quá nhiều thuốc tuyến giáp; do khẩu phần ăn quá nhiều iod và sử dụng quá nhiều hormon tuyến giáp tổng hợp. Ngoài ra, một số trường hợp bị cường giáp không có nguyên nhân rõ ràng.

Dấu hiệu sớm của bệnh cường giáp - Hình 1

Cần đi khám thường xuyên để phát hiện sớm bệnh.

Ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe?

Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, cường giáp có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm về tim mạch, thậm chí suy tim; bị cơn bão giáp (triệu chứng đột ngột trở nặng đe dọa đến tính mạng). Nguyên nhân do bệnh Basedow, người bệnh còn có nguy cơ bị lồi mắt ác tính, nếu không được điều trị tốt có thể dẫn tới viêm loét giác mạc gây mù lòa.

Thông thường, cường giáp chỉ cần uống thuốc để giảm lượng hormon tuyến giáp trong cơ thể và ức chế miễn dịch. Tuy nhiên, thời gian điều trị bệnh cần kéo dài liên tục 18- 24 tháng, vì vậy, người bệnh không nên tự ý bỏ thuốc khi thấy không còn các triệu chứng của bệnh.

Việc sử dụng thuốc như thế nào cần có chỉ định của bác sĩ bởi các loại thuốc này có thể gây ra các tác dụng phụ nguy hiểm như giảm bạch cầu hạt và nhiễm độc với gan. Người bệnh phải tuân thủ thời gian, liều lượng dùng thuốc và theo dõi định kỳ tại cơ sở y tế.

Các trường hợp nặng, không thể điều trị được bằng thuốc kháng giáp trạng hoăc tai phat nhiêu lân, bác sĩ sẽ chỉ định điều trị bằng uống iod phóng xạ giúp phá hủy các tế bào tuyến giáp làm giảm khả năng tổng hợp hormon, giúp cải thiện bệnh.

Phương pháp này đơn giản, có hiệu quả giúp người bệnh tránh được các tác dụng phụ của thuốc kháng giáp trạng và phẫu thuật. Tuy nhiên, việc sử dụng iod phóng xạ có thể gây suy chức năng tuyến giáp cho người bệnh về sau, có thể làm nặng thêm các biểu hiện ở mắt.

Phương pháp phẫu thuật dành cho những bệnh nhân có tuyến giáp lớn hoặc co u giap, nghi ngờ ung thư tuyến giáp… Tuy nhiên biện pháp này cũng có thể gây ra một số tác dụng phụ như: suy chức năng tuyến giáp và tuyến cận giáp, gây giảm canxi trong m.áu, ảnh hưởng đến phát âm của người bệnh.

Dấu hiệu sớm của bệnh cường giáp - Hình 2

Biểu hiện của bệnh cường giáp.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để phòng bệnh cường giáp và hạn chế diễn tiến của bệnh, người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh hoạt động thể lực gắng sức, không hoạt động tinh thần căng thẳng. Không hút t.huốc l.á và tránh khói thuốc. Ăn chế độ giàu đạm, calo, uống nhiều nước.

Nếu có những biến chứng về mắt do bệnh Basedow, cần đeo kính bảo vệ mắt, nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý hàng ngày. Không sờ nắn nhiều lên vùng cổ, hạn chế ăn thực phẩm chứa nhiều iod. Bệnh cường giáp có thể tái phát sau phẫu thuật, bởi vậy, nếu đã được điều trị cường giáp hoặc hiện đang được điều trị, nên gặp bác sĩ thường xuyên để được tư vấn và theo dõi tình trạng.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *