U gan – Xử trí thế nào?

Bệnh u gan là một bệnh có thể gặp trong cộng đồng, đa số không nguy hiểm nhưng có một số trường hợp có thể đe dọa tính mạng, thậm chí gây t.ử v.ong.

Nguyên nhân gây u gan

U gan có 2 loại chính, đó là u lành tính và u ác tính. Bệnh u gan lành tính có nhiều loại khác nhau (u m.áu, u tuyến, u giang mai, hoặc u nang gan), trong đó u nang gan hay gặp nhất. Gọi là nang gan khi tồn tại một ổ trống có thể chứa dịch, m.áu hoặc không chứa gì và nằm trong tổ chức gan.

Nguyên nhân gây u gan còn có thể do nhiễm ký sinh trùng sán lá gan hoặc áp- xe gan do vi khuẩn hoặc do lỵ amip (nếu không điều trị kịp thời có thể bị vỡ rất nguy hiểm) hoặc nhiễm vi khuẩn lao (nang lao) hoặc do nguyên nhân di truyền, bẩm sinh.

Đa số chỉ có 1-2 nang, vị trí chủ yếu ở thùy gan phải, kích thước thường nhỏ hơn 40mm. Một số ít nang gan có thể có kích thước rất lớn và chứa tới 1-2 lít dịch, nang nước có thể bị vỡ khi có va chạm…

Đối với u gan ác tính thường do nguyên phát là chủ yếu bởi viêm gan virus (A, B, C, D, E), hoặc có thể do uống quá nhiều bia rượu làm xơ gan, cuối cùng là ung thư gan hoặc do ung thư ở cơ quan khác di căn đến gan hoặc có thể do bẩm sinh.

U gan có thể do dùng một số thuốc không đúng chỉ định hoặc lạm dụng thuốc (ví dụ lạm dụng thuốc có chứa paracetamol…) hoặc do tiếp xúc nhiều với một số hóa chất độc hại (hóa chất diệt côn trùng, bảo quản thực vật, thực phẩm, thuốc kích thích tăng trưởng thực vật…).

U gan - Xử trí thế nào? - Hình 1

U gan - Xử trí thế nào? - Hình 2

Khối u chiếm toàn bộ phần gan phải trên phim chụp CT bụng.

Biểu hiện của u gan

Đối với u gan lành tính, hầu hết người bệnh không thấy có biểu hiện gì, ngoại trừ u gan do sán lá gan hoặc do lỵ amip. Với các bệnh này có thể đau tức vùng gan (hạ sườn phải), sốt, rét run, nếu có biến chứng do vỡ hoặc tràn vào cơ quan khác (cơ hoành, màng phổi…), triệu chứng sẽ rầm rộ hơn.

U gan ác tính thường ít có biểu hiện đặc trưng ở giai đoạn đầu của bệnh, vì vậy, hầu hết người bệnh không cảm nhận được, chỉ đến khi thấy đau hạ sườn phải (vùng gan) hoặc các biểu hiện mệt mỏi, sút cân, chán ăn, vàng mắt, vàng da, bụng trướng, phù… do bệnh đã ở vào giai đoạn cuối.

Muốn biết bệnh u gan, cần siêu âm gan, xét nghiệm chức năng gan (men gan), khi cần thiết có thể chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI) gan. Nếu có điều kiện có thể chọc gan để thăm dò (áp-xe), sinh thiết gan (nghi u ác tính) để xét nghiệm tế bào.

Khi bị u gan, nên làm gì?

Người bệnh khi được phát hiện là u gan, trước hết hãy thật bình tĩnh và nghe bác si khám bệnh cho mình giải thích, tư vấn, nếu do áp-xe gan hoặc do sán lá gan, cần điều trị sớm; nếu u gan lành tính, người bệnh không phải điều trị gì nhưng cần kiểm tra định kỳ.

Ung thư gan giai đoạn sớm, khối u gan đơn độc, chưa có tổn thương di căn, bác sĩ sẽ mổ cắt bỏ các phần gan có chứa khối u, kết hợp hóa trị sau mổ.

U gan kích thước quá lớn, đe dọa suy gan sau mổ hoặc liên quan trực tiếp với các mạch m.áu lớn, không thể mổ ngay được, di căn xa và dạng bướu nguyên bào gan, bác sĩ sẽ hóa trị trước mổ (2-4 chu kỳ) để làm khối u thu nhỏ lại, thuận lợi cho việc mổ cắt bỏ u gan.

Phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, trên 90% trường hợp có thể điều trị khỏi. Phát hiện muộn, khối u to không thể mổ cắt hoặc có di căn xa, kết quả điều trị thấp hơn.

Tỷ lệ điều trị khỏi của bệnh nhân lao mới đạt hơn 97%

Thực hiện chương trình phòng, chống lao, năm qua, toàn tỉnh Khánh Hòa thực hiện khám sàng lọc phát hiện bệnh lao cho hơn 79.000 lượt người (đạt 105% kế hoạch), qua đó phát hiện số bệnh nhân lao mới các thể hơn 1.420 người. Tỷ lệ điều trị khỏi của bệnh nhân lao mới đạt hơn 97%.

Tỷ lệ điều trị khỏi của bệnh nhân lao mới đạt hơn 97% - Hình 1

Khám bệnh tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh.

Trong đó, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh thực hiện khám cho hơn 20.400 lượt người, quản lý 509 bệnh nhân. Bệnh viện đã thực hiện hơn 1.320 lần nuôi cấy Mgit (phương pháp tìm vi khuẩn lao); hơn 1.170 xét nghiệm Gene Xpert (xét nghiệm sinh học phân tử chẩn đoán lao và lao kháng thuốc…), đo chức năng hô hấp cho người bệnh gần 590 lần. Năm 2020, bệnh viện thực chuyển tuyến nội tỉnh 206 ca, hầu hết là chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh; chuyển tuyến ngoại tỉnh 177 ca, chiếm gần 99% là đến Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (TP. Hồ Chí Minh).

Năm 2021, chương trình chống lao ở tỉnh tiếp tục giữ vững những kết quả đạt được; đồng thời đẩy mạnh hoạt động phòng, chống lao trong cộng đồng; phát hiện và điều trị sớm cho những trường hợp lao kháng thuốc…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *